Thuốc thử là gì? Tìm hiểu một số loại thuốc thử hoá học thông dụng

Trong hoá học, khái niệm thuốc thử được nhắc đến khá nhiều với công dụng xác định các chất hoá học khác. Bài viết hôm nay, Cholab sẽ cùng bạn tìm hiểu rõ hơn về khái niệm này cũng như cùng tìm hiểu về một số loại thuốc thử hoá học thông dụng.

Thuốc thử là gì?

Thuốc thử là gì
Thuốc thử là gì

Thuốc thử được hiểu là hoá chất tinh khiết dùng để phát hiện hoặc định lượng một chất khác bằng phản ứng hoá học.

Cụ thể hơn, thuốc thử là các chất hoá học tinh khiết vô cơ hoặc hữu cơ dùng để gây phản ứng với một chất cần thử nghiệm trong các phòng thí nghiệm hoá học hoặc cơ sở có liên quan đến hoá học (nông nghiệp, y học, dược,..). Độ tinh khiết của thuốc thử được phân thành 4 cấp xếp theo thứ tự cao dần: tinh khiết kĩ thuật, tinh khiết phân tích, tinh khiết hoá học, siêu tinh khiết. Ngoài ra, có một số thuốc thử mang tính đặc hiệu cho từng đối tượng riêng, do đó chúng có tên riêng, thường là lấy tên của người đã phát hiện như Fisơ, Milơ, Nexlơ,..

Tìm hiểu một số loại thuốc thử hoá học thông dụng

Một số thuốc thử hoá học thông dụng
Một số thuốc thử hoá học thông dụng

Thuốc thử Barfoed

Loại thuốc thử này gần giống thuốc thử Benedict, tuy nhiên giữa hai thuốc thử này vẫn có một số điểm khác biệt.

Dung dịch được chuẩn bị bằng cách hòa tan 70g Đồng acetat monohydrat với 9ml axít acetic trong nước, sau đó đưa vào bình định mức 1lít rồi thêm nước vào cho đến vạch định mức. Dung dịch này có thể sử dụng trong thời hạn một năm.

Khi 1ml dung dịch thuốc thử Barfoed được đun nóng với 5 giọt chất mẫu, kết quả dương tính đối với monosacarit là sự hình thành kết tủa đỏ gạch tồn tại trong vòng 5 phút. Còn disacarit không thấy phản ứng xảy ra sau 10 phút đun nóng với thuốc thử, vì vậy kết tủa sẽ không đóng váng như khi thử với thuốc thử Benedict.

Thuốc thử Benedict

Thuốc thử này hiện tại chưa có trên thị trường Việt Nam, nếu muốn mua thì phải nhập khẩu.

Dung dịch pha chế trong phòng thí nghiệm được phân ra hai loại là dung dịch thô dùng cho phân tích định tính và dụng dịch thô dùng cho phân tích định lượng:

Dung dịch thô tiến hành như sau: Hòa tan 100g Na2CO3  và 173g Natri Citrat dihydrat trong 850ml nước, khuấy đều và cho từ từ dung dịch  của 17.3 g Đồng sulfat trong 100ml nước. Cuối cùng, thêm hỗn hợp vào bình định mức 1lít và thêm nước đến vạch chỉ định. Thuốc thử này có thể được sử dụng lâu dài.

Trong 600ml nước nóng hòa tan các chất sau:

  • 200g Natri citrat (C6H5Na3O7)
  • 75g Natri cabonat
  • 125g Kali thiocynat

Trong 100ml nước hòa tan

  • 18g CuSO4.5H2O

Khi các dung dịch đã nguội thì tiến hành trộn chúng với nhau và khuấy đều sau đó thêm 5ml dung dịch Kali Ferocyanit, cho thêm nước vào cho đủ 1lít.

1ml dung dịch thuốc thử được đun nóng với 5 giọt chất mẫu trong một cốc nước, dấu hiệu tích cực khi kiểm tra sự có mặt của đường khử là hình thành kết tủa trong 5 phút. Khoảng biến màu từ xanh lá cho đến vàng rồi chuyển qua màu cam sau đó là màu đỏ gạch tùy thuộc vào hàm lượng đường khử có trong chất mẫu, một mẫu chứa 1% glucose thì màu của kết tủa thường là đỏ gạch.

Thuốc thử Bial

Tiến hành hòa tan 3g orcinol (C7H8O2) trong 500 mL axít  HCl đậm đặc, sau đó thêm 2,5 ml dung dịch feric clorua hexahydrat 10% và hòa tan hỗn hợp thành 1lít với nước 9lúc này HCl xấp xỉ 6M). Thuốc thử này chỉ bền trong vòng vài tuần

Thuốc thử Bial được pha chế theo cách cổ điển được chuẩn bị trong 1lít HCl đậm đặc không pha loãng với nước. Dung dịch này phản ứng nhanh hơn (30-60 giây) nhưng kém bền so với thuốc thử pha chế bằng phương pháp nêu trên và hơi của HCl đậm đặc sẽ là vấn đề khó khăn. Bên cạnh đó cũng có thể dùng HCl 4M vẫn phản ứng tốt nhưng chậm và cho màu yếu hơn.

Khi 1ml dung dịch thuốc thử được đun nóng với 5 giọt chất mẫu trong một cốc nước thì sẽ có dấu hiệu tích cực với pentose (phân tử đường chứa 5 cacbon) là sự đổi màu dung dịch từ xanh lá sang xanh da trời trong thời gian ngắn.

Thuốc thử Biuret

Cho 300ml dung dịch NaOH 10% về thể tích vào 500ml dung dịch chứa 0.3% đồng sulfat pentahydrat và 1.2% Kali  Tartrat (C4H4K2O6) khuấy đều sau đó pha loãng thành 1lít dung dịch. Cuối cùng để dung dịch ở chỗ tối ngay để tránh thuốc thử bị biến tính.

Thuốc thử này có thể dùng trong phân tích định tính và định lượng. Trong một phản ứng tiêu biểu một phần thể tích của mẫu được trộn với 2 phần thể tích của thuốc thử; tỉ số tối giản phụ thuộc vào nồng độ tối đa của protein cần được phát hiện. Sự xuất hiện của protein sẽ cho ra màu tím với bước sóng hấp thụ khoảng 550-555nm (thực tế thường đọc được ở 540nm).

Thuốc thử Bradford

Hòa tan 100mg  Coomassie Blue G-250 (C41H44N3NaO6S2) trong 50 mL  etanol 95%, cho thêm 100ml dung dịch axít photphoric 85%, và pha loãng đến 1lít.

Thuốc thử phải được lọc ít nhất một lần và có thể lọc 2 đến 3 lần nếu chưa ổn cho đến khi thấy kết tủa xuất hiện trong dung dịch.

Thuốc thử này hiện có bán trên thị trường với cấu trúc tương đối bền.

Để định lượng protein: Tiến hành trộn 0.25ml mẫu với 2.5 ml thuốc thử Bradford. Sau 5 phút đo phổ hấp thụ ở 595nm.

Thuốc thử này có nhược điểm là cho ra một khoảng trắng dài làm ảnh hưởng đến kết quả đọc phổ bởi vì một số thuốc thử dính chặt với cuvét. Bên cạnh đó, một nhược điểm khác là thuốc thử này cũng rất nhạy với dung dịch tẩy rửa nếu như dụng cụ thủy tinh không được rửa lại sạch thì sẽ chuyển sang nghiên cứu về khả năng hòa tan của màng protien trong chất tẩy rửa.

Thuốc thử DNSA

Thuốc thử này được dùng để phát hiện nhóm khử cuối mạch của hydrocarbon và cũng rất hữu dụng trong nhiều thí nghiệm. Thành phần của thuốc thử này là 1% của  3,5-dinitrosalicylic Axít (DNSA), 30% Natri Kali Tartrat và 0.4M NaOH.

Thuốc thử này có độ bền cao và sau vài năm cất trữ có một vài vẫn đen xuất hiện trong dung dịch, tuy nhiên chúng vẫn được sử dụng tốt.

Trong một phản ứng cơ bản, cùng một thể tích của mẫu và thuốc thử được đun nóng trong cốc nước sôi khoảng 10 phút. Sau đó để nguội và tiếp tục pha loãng với 10 phần thể tích nước đo phổ hấp thụ thu được bước sóng 540nm.

Thực tế thường dùng khoảng 0.4 ml mẫu và DNSA và sau khi đun nóng hòa tan với 4ml nước, thu được một hỗn hợp vừa đủ để chạy phổ hấp thụ. Khi không có nhóm khử nào xuất hiện thì màu thu được là màu vàng và khoảng hấp thụ từ 0.03-0.05,một điểm tích cực là màu đỏ tạo thành với khoảng hấp thụ trên 1.0.

Thuốc thử Lowry

Thuốc thử 1:  Tiến hành trộn lẫn một phần thể tích thuốc thử B (0.5% đồng sulfat pentahydrat, 1% Kali tartrat)  với 50 phần thể tích của thuốc thử A (2% Natri carbonat, 0.4% NaOH).

Thuốc thử 2: Tiến hành hòa tan thuốc thử Folin-Ciocalteu phenol thương mại với một lượng nước bằng về thể tích, thuốc thử sẽ có độ bền trong vài tuần.

Để định lượng protein trộn 0.25ml dung dịch chứa protein với 2.5 ml thuốc thử Lowry. Sau 10 phút thêm 0.25ml thuốc thử Lowry 2 và lắc đều. Sau 30 phút đo phổ hấp thụ  ở 750nm.

Thuốc thử Seliwanoff

Tiến hành hòa tan 1g resorcinol (C7H8O2) trong 300ml HCl đậm đặc sau đó pha loãng thành 1lít (HCl xấp xỉ 4M). Thuốc thử này có thể cất được hơn một năm.

Khi 1ml thuốc thử được đun nóng với 5 giọt chất mẫu trong một cốc nước đang sôi, một điểm tích cực đối với monosacarit có chứa nhóm ceton là sự chuyển màu của dung dịch từ vàng cam sang đỏ trong vòng 5 phút.

Thuốc thử Denigés

Thuốc thử này được phát triển vào năm 1898 bởi G. Denigés, được dùng để phân tích định tính vô cơ.

Ứng dụng: Thuốc thử này dùng để phát hiện isolefin hoặc tertiary ancol có thể dễ dàng mất nước để tạo thành isoolefin với sự có mặt của axit.

Điều chế: Thuốc thử Denigés cuối cùng là thủy ngân(II) sunfat trong dung dịch nước. Được điều chế bằng các phương pháp sau:

  • Cho 5 gam thuỷ ngân(II) oxit được hòa tan trong 40 mL nước cất. Hỗn hợp được khuấy chậm, trong khi 20 mL axit sunfuric đậm đặc được thêm vào. Tiếp tục bổ sung thêm 40 mL nước cất và khuấy cho đến khi HgO được hòa tan hoàn toàn.
  • Thuốc thử này cũng có thể được điều chế bằng cách hòa tan 5 gam HgO trong 20 mL axit sunfuric đặc và 100 mL nước cất.
  • Hoặc được điều chế bằng cách sử dụng axit nitric thay cho axit sulfuric.

Thuốc thử Folin

Thuốc thử này còn có tên gọi khác là natri 1,2-naphtoquinon-4-sunfonat, được dùng để đo nồng độ của các amin hay amino axit.

Thuốc thử tạo màu đỏ tươi trong dung dịch kiềm và phát quang.

Thuốc thử này khác với thuốc thử Folin-Ciocalteu, một hỗn hợp của natri volframat và natri molybđat được dùng để phát hiện hợp chất chứa nhóm phenol.

Một số điều cần biết khác về thuốc thử

Một số điều cần biết về thuốc thử
Một số điều cần biết về thuốc thử

Thuốc thử ví dụ

Thuốc thử có thể là hợp chất hoặc hỗn hợp. Trong hóa học hữu cơ, nhất là các phân tử hữu cơ nhỏ hoặc các hợp chất vô cơ.

Tuy nhiên, một chất có thể được sử dụng như một thuốc thử mà không cần phải từ trong tên của nó.

Thuốc thử so với chất phản ứng

Một số thuốc thử có thể không cần phải tiêu thụ trong một phản ứng như một chất phản ứng.

Ví dụ, một chất xúc tác là một thuốc thử nhưng không được tiêu thụ trong phản ứng. Một dung môi thường được tham gia vào một phản ứng hóa học – nó được coi là một thuốc thử, nhưng không phải là một chất phản ứng.

Nơi cung cấp thuốc thử uy tín, chất lượng

Cholab hiện đang là địa chỉ phân phối thuốc thử đủ loại với giá cả cạnh tranh, chất lượng đam bảo và cam kết về xuất xứ sản phẩm. Nếu bạn đang có nhu cầu tìm mua sản phẩm này thì Cholab chắc chắn là địa chỉ mà bạn nên lựa chọn. Bên cạnh đó Cholab cũng là nơi cung cấp các hoá chất thí nghiệm, thiết bị phòng thí nghiệm, dụng cụ thí nghiệm,..bạn cũng có thể tìm mua nếu có nhu cầu nhé.

Bài viết này, Cholab đã chia sẽ đến bạn những thông tin cơ bản về thuốc thử cũng như chi tiết về một số loại thuốc thử thông dụng, một số khái niệm cần biết về thuốc thử. Hy vọng với những thông tin này, bạn có thể vận dụng vào công việc, học tập một cách hiệu quả. Nếu vẫn còn thắc mắc nào về thuốc thử hoặc các vấn đề khác thì hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được hỗ trợ giải đáp nhé.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *